Heyyo! Xin chào bạn

Hãy đăng ký thành viên để cùng chúng tớ sẻ chia, trao đổi, sử dụng nguồn thư viện siêu quý báu, khổng lồ và nắm bắt những vấn đề nóng nhất của ngành Thiết kế Nội thất!

Đăng ký ngay!

Tinh thần của đất trong nghệ thuật Việt Nam

Sinh Viên Nội Thất

Quản trị viên
Tự Do
Điểm tương tác
51
Điểm tích lũy
152
Từ bao đời nay, đời sống vật chất và tinh thần người Việt Nam gắn liền với đất. Con người được sinh ra từ đất và trở về với đất, như Trịnh Công Sơn viết: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi”. Con người tồn tại giữa xã hội phải có đất, có lãnh thổ của riêng mình, nên mới có câu “tấc đất cắm dùi”. Đất đối với người Việt Nam có một ý nghĩa rất linh thiêng, nhà nào cũng có bàn thờ Thổ công (thần đất cai quản nơi mình ở), vùng nào cũng có miếu thờ Thành hoàng (thần đất của cả vùng). Người ta chọn nơi xây nhà, đắp mộ, dựng thành phố đều phải xem khí chất của đất nơi ấy có tốt không… Nơi nào có người tài giỏi xuất hiện là bởi đất nơi đó có nhiều linh khí, nên mới có câu “địa linh nhân kiệt”.

Do đó, sẽ không có gì ngạc nhiên khi cái khí chất của đất thấm đẫm trong nghệ thuật Việt Nam, và đôi khi chúng ta có cảm tưởng rằng đó gần như trở thành một cái gọi là “bản sắc” của nghệ thuật Việt Nam, trong đó có kiến trúc.

Đất có tính chất trầm ổn, ấm áp, chậm rãi, bình dị nhưng mạnh mẽ, lì lợm. Chả thế mà tính cách người Việt Nam nói chung là dung dị, không thích đi xa, chậm đổi mới, nhưng rất gan góc và kiên cường mỗi khi bị xâm lược, bị chiếm đất. Các dân tộc đi xâm lược thường có tính phiêu du, khao khát sự nhanh nhẹn của gió, của trời, của lửa, của nước. Linh vật của họ là rồng, hổ, sư tử, gấu, đại bàng… Tất nhiên, các triều đại phong kiến nước ta vẫn lấy rồng và tiên (chim) là linh vật, nhưng phần lớn chúng chỉ dùng cho giới quý tộc, còn dân gian thì luôn thích dùng con nghê (biến thể của puppy). Cổng đình, chùa Việt Nam thường có con nghê đứng canh tà ma, chúng được các nghệ nhân xưa sáng tạo ra với một hình ảnh rất thân thiện (có phần hơi “ngô nghê”) mà không kém phần nghiêm trang, uy dũng. Còn ở cổng nhà dân thì người ta hay đặt puppy đá, nhỏ nhắn, bình dị, nhưng vẫn chứa đựng đầy linh khí. Gần đây, người ta hay học theo “nước ngoài”, đưa các con vật “ngoại lai” như sư tử vào đình đền chùa và cả nhà dân, trong rất dữ tợn, vốn không phải là cái khí chất bình dị kiên trung, là cái khí chất của đất, như ở con nghê, puppy. Chúng ta cũng lưu ý rằng, theo ngũ hành của mười hai con giáp, Tuất (chó) thuộc về hành Thổ.


Nghê ở đền Phù Đổng (Hà Nội) và Nghê ở đền Đinh Tiên Hoàng (Ninh Bình)

Người Việt Nam làm những thứ cao sang, hoành tráng thua xa các dân tộc khác, nhưng làm những thứ nhỏ nhắn, “phất phơ” thì rất tinh tế, sáng tạo. Dante viết “Thần khúc” mà triết lý cao như kinh thánh, với vô số những cảnh tượng, những ngôn từ mới lạ. La Quán Trung, Lev Tolstoy, Honoré de Balzac viết tiểu thuyết có hàng trăm nhân vật mà không nhân vật nào giống nhân vật nào, không có chi tiết nào thừa cả. Vasari, Surikov vẽ những trận chiến khốc liệt với hàng trăm nhân vật mà mỗi khuôn mặt có một vẻ khác nhau. Beethoven viết 9 bản giao hưởng mà mỗi bản như là một cuốn sử thi khác nhau. Bắc Kinh, Moskva, Paris từ lâu đã là những đô thị lộng lẫy với những công trình to cao ngất ngưởng và vận hành rất khoa học quy củ… Cho đến hiện tại, không nghệ sĩ nào của Việt Nam có thể sáng tạo ra những thứ hoành tráng và có tính hệ thống cao như vậy.

Ngược lại, người Việt Nam lại có những vần thơ giản dị nhưng đi vào lòng người ví dụ như thơ của Hồ Xuân Hương, quan họ Bắc Ninh… Đô thị Việt Nam tuy vụn vặt xô bồ nhưng tràn ngập cảm xúc, đầy ắp các hoạt động, một thứ mà các đô thị hiện đại phương Tây không có. Người ta rời Moskva để nhớ điện Kremli đồ sộ, nhưng người ta rời Hà Nội để nhớ một góc vỉa hè nhỏ nhắn rêu phong. Người phương Tây rất thích đô thị Việt Nam ở cái nhỏ nhắn, giản dị nhưng có chiều sâu đó. KTS W.Lim, Chủ tịch Hội KTS Châu Á, khi đến thăm phố cổ Hà Nội, đã ngạc nhiên thấy một mô hình đô thị “hậu hiện đại” rất hấp dẫn ở đây: “Đi dạo dọc theo những đường phố trong khu phố cổ Hà Nội sẽ là sự trải nghiệm không thể nào quên. Chúng ta bắt gặp sự phức tạp đến khó tin của cách sử dụng, quang cảnh đường phố đông đúc hỗn loạn, những hoạt động tùy tiện đầy sức sống… Đằng sau các mặt tiền là rất nhiều văn phòng nhỏ, những khách sạn rẻ tiền, các câu lạc bộ và những cơ quan, nhà ở chen chúc. Kích thước của các lô đất không đều nhau và rất nhỏ. Trật tự hỗn loạn rõ ràng nằm ngoài phạm vi và sự hiểu biết về lý luận quy hoạch hiện đại. Những nơi chốn đó có khả năng thay đổi và liên tục tự tái tạo.”

Nếu phố Hà Nội cũng sáng choang, bóng bẩy, ngộn ngợp nhà cao tầng như Hong Kong, New York, thì liệu có tranh phố của Bùi Xuân Phái không?

Vẻ đẹp giản dị, sâu trầm của người Việt Nam – Đó là vẻ đẹp của đất.

Trang phục người Việt Nam ngày trước thường là màu nâu, đen (đối với dân thường), hoặc vàng (đối với vua chúa) – vẫn là những màu của đất. Nhà người Việt ngày trước cũng toàn sử dụng màu trầm như ngói nâu đỏ, cột kèo gỗ lim nâu đen, đất nền đen, gạch lát màu sành…

Tranh dân gian sử dụng nhiều màu sắc của đất như: Nâu sỏi, rỉ đồng, đỏ gấc, vàng lúa chín, đen than lá tre… Tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh cũng toàn sử dụng gam màu vàng, nâu, đỏ (những màu liên quan đến đất), trầm mặc, phồn thực, sâu lắng. Trong tranh sơn mài, chất liệu được đẩy lên đỉnh cao bởi các họa sĩ Việt Nam, màu đen và đỏ của sơn, màu vàng của thếp thật lung linh, dầy dặn.

Màu nâu đỏ thâm thâm của đất cũng được thấy trong tranh phố Phái. Chúng tạo ra vẻ trầm mặc, chậm rãi, buồn buồn, nhưng ẩn chứa sức sống bền bỉ. Chúng như đất, ẩn giấu trong lòng rất nhiều báu vật để con người khao khát đào bới tìm kiếm.

Từ thời xa xưa, người Việt Nam đã dùng hình vuông để biểu tượng cho đất như câu chuyện Bánh chưng bánh dày, rằng “trời tròn đất vuông”. Xét về mặt thuần túy tạo hình, hình vuông, với các cạnh bằng nhau, bị giới hạn ở bốn góc, giống nhau ở bốn phía, nên tạo nên nhận thức thị giác bị trầm xuống, chắc chắn, nhưng hơi gò bó. Hình vuông không thể chuyển động được như hình tròn, cũng không vươn lên như hình tam giác.

Hình vuông, tương ứng với số 4, cũng là một con số được ưa thích trong văn hóa Việt Nam. Nó tượng trưng cho vũ trụ, gồm có không gian: Tứ phương, tứ trấn (xung quanh đô thị), và thời gian: Bốn mùa. Nó tượng trưng cho 4 vị thần đặc biệt quan trọng tới nền kinh tế xã hội nông nghiệp là Tứ pháp (mây, mưa, sấm chớp). Người Việt Nam cũng thường lấy số 4 để nhóm lại những thành phần tinh hoa nhất trong một lĩnh vực, ví dụ thời Lý Trần có Tứ đại khí (4 tác phẩm to đẹp nhất bằng đồng: Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh), hoặc trong tín ngưỡng dân gian có Tứ bất tử (4 vị thánh bất tử trong tín ngưỡng dân gian là Tản Viên, Phù Đổng, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh), hoặc hiện đại thì có Tứ trụ sử học (các giáo sư: Lâm, Lê, Tấn, Vượng), Tứ kiệt hội họa (các họa sĩ Nghiêm, Liên, Sáng, Phái)…

Như vậy, đối với người Việt Nam, hình vuông – số 4 – đất, mang ý nghĩa tinh hoa, bao hàm trật tự của thế giới.


Sơ đồ Hoa Lư tứ trấn và Thăng Long tứ trấn



Sử dụng hình vuông trong tạo hình kiến trúc truyền thống. Mặt bằng Chùa Một Cột (thực ra là Liên hoa đài của chùa Diên Hựu) và Khuê Văn Các

Gần đây, Việt Nam ta đang học theo “quốc tế”, là làm cái gì cũng phải “phát triển bền vững”, và kiến trúc cũng không ngoại lệ. Không hiểu rồi cái phong trào đó sẽ đi xa tới đâu nếu nó chỉ nảy sinh từ sự học hỏi “bên ngoài” mà không phải xuất phát từ nhu cầu thiết yếu bên trong. Nhưng may thay, cái “bền vững” cũng chính là một đặc tính của đất, của truyền thống, tinh thần, văn hóa người Việt Nam. Cho nên, kiến trúc bền vững chắc sẽ còn tiến xa hơn nữa. Chỉ có điều, nó phải là sự bền vững về tinh thần của chính người Việt, chứ không phải bền vững về giải pháp công nghệ, và càng không phải bền vững trong học hỏi, cóp nhặt từ cái “bền vững của người khác”.

KTS. Vũ Hiệp
tapchikientruc.vn
 

Con số thông kê

Số bài viết
1,977
Số bài đã đăng
2,537
Số thành viên
35,459
Thành viên mới nhất
Abyan Tran
Top